[Wiki] Cá nhám voi là gì? Chi tiết về Cá nhám voi update 2021

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Bước tới điều hướng
Bước tới tìm kiếm

Cá nhám voi
Thời điểm hóa thạch: 60–0 triệu năm trước đây

TiềnЄ
Є
O
S
D
C
P
T
J
K
Pg
N
Q

[1]

Whale shark Georgia aquarium.jpg

Cá nhám voi tại Bể cảnh Georgia
Rhtyp u0 white bg.gif

Kích cỡ so với một người bình thường
Tình trạng bảo tồn
220px Status iucn2.3 EN vi.svg
Nguy cấp (IUCN 2.3)[2]
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum) Chordata
Lớp (class) Chondrichthyes
Phân lớp (subclass) Elasmobranchii
Bộ (ordo) Orectolobiformes
Họ (familia) Rhincodontidae
(Müller và Henle, 1839)
Chi (genus) Rhincodon
Smith, 1829
Loài (species) R. typus
Danh pháp hai phần
Rhincodon typus
(Smith, 1828)
Phân bố của cá nhám voi

Phân bố của cá nhám voi

Cá nhám voi hay cá mập voi (danh pháp hai phần: Rhincodon typus) là một thành viên đặc biệt trong phân lớp Elasmobranchii (cá mập, cá đuối) của lớp Cá sụn (Chondrichthyes). Loài cá này nắm giữ nhiều kỷ lục về kích thước trong thế giới động vật, tiêu biểu nhất là danh hiệu động vật có xương sống không phải thú lớn nhất còn tồn tại. Ngoài ra đây cũng là thành viên duy nhất của chi Rhincodon và là thành viên cuối cùng còn sót lại của họ Rhincodontidae.

Cá nhám voi thường xuất hiện ở vùng nước mặt thoáng trên các đại dương nhiệt đới và hiếm khi bắt gặp ở những vùng nước có nhiệt độ dưới 21 °C (70 °F).[2] Qua các nghiên cứu kỹ lưỡng về cá nhám voi, người ta ước tính tuổi thọ của loài này là từ 80–130 năm.[3][4][5] Loài cá này sở hữu cái miệng rất rộng và có khả năng lọc thức ăn, tương tự như hai loài cá mập khác là cá mập miệng to và cá mập phơi nắng. Chúng hầu như chỉ ăn sinh vật phù du và cá nhỏ, đồng thời không gây ra bất kỳ mối đe dọa nào đối với con người.

Tên gọi[sửa | sửa mã nguồn]

Loài này được nhận dạng lần đầu tiên vào năm 1828, sau khi một mẫu vật dài 4,6 m (15 ft) được bắt được ở Vịnh Table thuộc Nam Phi. Họ Rhincodontidae đã không được thông qua cho tới tận năm 1984.[6] Tên gọi “cá nhám voi” có lẽ bắt nguồn từ kích thước lớn hệt như cá voi,[7] đồng thời loài này còn có cơ chế lọc thức ăn tương tự như cá voi tấm sừng.

Cơ thể học và hình dạng[sửa | sửa mã nguồn]

Miệng cá nhám voi có thể chứa đến 300 hàng răng nhỏ và 20 tấm sừng màng lọc, được sử dụng để lọc thức ăn. Khác với nhiều loài cá mập khác, miệng của cá nhám voi nằm phía trước đầu chứ không phải ở phần dưới của đầu. Chiều dài của cá nhám voi khoảng từ 9–11 m, nặng từ 10-15 tấn. Chiều dài tối đa được kiểm chứng là 12,45 m, và khối lượng tối đa là 21,5 tấn. Những con số không chính thức có nơi ghi là 18 mét (59 ft). Cũng cần phân biệt loài này với cá nhám phơi nắng (Cetorhinus maximus), một loài cá lớn nhưng nhỏ hơn cá nhám voi.

Là thành viên của bộ Cá nhám râu (Orectolobiformes), nó là loại cá ăn uống theo cơ chế lọc bỏ. Nó có miệng rộng có thể lên tới 1,5m và chứa tới 300 răng nhỏ. Là một phần trong quá trình ăn uống của mình, nó có 5 cặp mang lớn. Hai mắt nhỏ nằm ngay ở phần trước của cái đầu rộng và bẹt. Thân của chúng có màu xám chuyển thành trắng ở phần bụng; với ba lằn gân rõ nét chạy dọc theo mỗi bên hông và da của chúng giống như ‘bàn cờ đam’ với các đốm màu vàng nhạt và các sọc. Các đốm này là duy nhất cho từng cá thể. Do vậy các đốm này có thể dùng để đánh dấu mỗi con cá nhám voi nhằm thực hiện việc kiểm đếm chính xác số lượng cá nhám voi. Tuy nhiên, cho tới nay người ta vẫn không biết rõ về số lượng của chúng. Lớp da của chúng có thể dày tới 15 cm.[8] Các nhám voi có hai cặp vây lưng và vây ngực. Đuôi của cá nhám voi non có vây trên lớn hơn vây dưới nhưng ở cá nhám voi trưởng thành thì đuôi có hình bán nguyệt hay hình trăng lưỡi liềm. Các lỗ thở của chúng nằm ngay sau mắt. Cá nhám voi không phải là những tay bơi lội cừ khôi; toàn thân của nó chuyển động khi bơi, kết quả là nó có vận tốc thấp rất bất thường khi so với các loại cá mập, trong đó vận tốc trung bình của loài này chỉ đạt khoảng 5 km/h.

Bộ gen hoàn chỉnh kèm theo chú giải của loài cá nhám voi đã được công bố vào năm 2017.[9]

Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng cá nhám voi có thể tự phục hồi sau những chấn thương lớn và có thể tái tạo lại những phần vây nhỏ của chúng.[10]

Phân bố và môi trường sống[sửa | sửa mã nguồn]

Cá nhám voi phân bố ở các đại dương thuộc vùng nhiệt đới và ôn đới ấm của thế giới. Được coi là sống ngoài đại dương nhưng chúng cũng tụ tập lại theo mùa ở một vài khu vực ven bờ như dải đá ngầm Ningaloo ở khu vực miền tây Úc cũng như Pemba và Zanzibar ở khu vực ven bờ đại dương của Đông Phi. Khu vực phân bố của chúng giới hạn trong khoảng vĩ độ ±30 ° tính từ các khu vực này. Cá nhám voi chủ yếu sống cô độc và ít khi thấy chúng bơi thành đàn. Người ta tin rằng chúng sống di trú, nhưng các chuyên gia vẫn không rõ chúng có thể di cư xa bao nhiêu (có thể là di trú xuyên đại dương).

Tập tính tụ tập kiếm ăn theo mùa diễn ra tại một số địa điểm ven biển như Vịnh Ba Tư và Vịnh Oman, rạn san hô Ningaloo ở Tây Úc, Đảo Darwin thuộc Galápagos, Quintana Roo ở Mexico, vùng Inhambane ở Mozambique, Philippines, Mahe ở Seychelles,[11] hai bờ biển Gujarat[11] và Kerala của Ấn Độ,[12][13] Đài Loan, Hoa Nam[11] và Qatar.[14]

Vào năm 2011, hơn 400 con cá nhám voi đã tụ tập ngoài khơi bờ biển Yucatán. Đây là một trong những cuộc tập trung lớn nhất từng được ghi nhận trong lịch sử loài này.[15]

Chế độ ăn[sửa | sửa mã nguồn]

220px Whale Shark 1 AdF

Cá nhám voi đang ăn lọc các sinh vật phù du ở Maldives

220px Whale6

Một con cá nhám voi ở vùng biển Philippine, dưới thân nó là vài chú cá ép

220px

Cá nhám voi (Rhincodon typus) đang há to miệng ở vùng La Paz, Baja California Sur, Mexico

Cá nhám voi là loài có cơ chế lọc thức ăn; kiểu ăn này chỉ tồn tại ở hai loài cá mập còn lại, đó là cá mập phơi nắng và cá mập miệng to. Loài cá này tiêu thụ những sinh vật phù du như giáp xác chân chèo, tôm he, trứng cá, ấu trùng cua đỏ đảo Giáng Sinh[16] cùng các sinh vật trôi nhỏ, chẳng hạn như mực hoặc cá nhỏ.

Các răng nhỏ li ti không giúp ích gì cho quá trình ăn uống của nó, thay vì thế nó hút nước chứa các sinh vật phù du vào qua miệng và đi qua mang lược (có chức năng giữ lại thức ăn) rồi sau đó bị tống ra khỏi bằng mang cung. Những gì mắc lại tại mang lược được nó nuốt hết. Cá nhám voi có thể luân chuyển nước với tốc độ tới 1,7 l/s (3,5 panh (pint) Hoa Kỳ/s). Tuy nhiên, cá nhám voi là loài tích cực săn mồi và chúng phát hiện các mục tiêu như các chỗ có nhiều sinh vật phù du hay cá nhờ các tín hiệu khứu giác chứ không phải luôn luôn chỉ là cơ chế ‘hút bụi’.

Theo lời của những thủy thủ thì cá nhám voi tập trung tại các bãi đá ngầm ngoài khơi bờ biển Belize (vùng Caribbean), là nơi có thể bổ sung thêm cho thức ăn thông thường của chúng các loại trứng cá chỉ vàng, được các loài cá này đẻ vào giai đoạn từ tháng 5 đến tháng 7 hàng năm trong khoảng thời gian 6-7 ngày kể từ ngày trăng tròn trong các tháng này.

Thep ước tính thì mỗi ngày một con cá nhám voi con xơi đến 21 kg (46 pound) sinh vật phù du.[17][18]

Quan hệ đối với con người[sửa | sửa mã nguồn]

Hành vi đối với các thợ lặn[sửa | sửa mã nguồn]

220px Whale Shark and Freediver

Cá nhám voi bơi cùng thợ lặn

Dù có kích thước to lớn nhưng cá nhám voi lại không gây nguy hại gì đối với con người. Đây là loài cá rất thân thiện và đôi khi còn cho phép những người bơi lội cưỡi lên chúng,[19][20][21] mặc dù cách làm này không được các nhà khoa học và bảo tồn cá mập khuyến khích vì nó sẽ làm phiền cá nhám voi.[22] Những cá thể có tuổi đời trẻ hơn rất hiền lành và có thể chơi đùa với các thợ lặn. Một số nhiếp ảnh gia dưới nước, chẳng hạn như Fiona Ayerst, đã chụp những bức ảnh khi chúng bơi gần con người mà không gặp bất cứ vấn đề gì.[23]

Cá nhám voi được các thợ lặn bắt gặp ở nhiều nơi trên thế giới, bao gồm Islas de la Bahía ở Honduras, Thái Lan, Indonesia, Philippines, Maldives, Hồng Hải, Tây Úc (Rạn san hô Ningaloo, Đảo Giáng Sinh), Đài Loan, Panama (Coiba), Belize, Bãi biển Tofo ở Mozambique, Vịnh Sodwana (Công viên ngập nước iSimangaliso) ở Nam Phi,[23] Quần đảo Galápagos, Saint Helena, Isla Mujeres (Biển Caribbean), La Paz, Baja California Sur và Bahía de los Ángeles ở Mexico, Seychelles, Tây Malaysia, các đảo ngoài khơi phía đông Malaysia bán đảo, Ấn Độ, Sri Lanka, Oman, Fujairah, Puerto Rico, cũng như các vùng thuộc Caribbean.[19] Ngoài ra, người ta cũng tìm thấy cá nhám voi con ở cận bờ Vịnh Tadjoura, gần quốc gia Djibouti trong khu vực Sừng châu Phi.[24]

Tình trạng bảo tồn[sửa | sửa mã nguồn]

Hiện không có ước tính chính xác về quần thể cá nhám voi trên toàn cầu. Loài này được Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế liệt vào dạng nguy cấp do tác động của nghề cá, thiệt hại do đánh bắt không chủ ý và va chạm với tàu thuyền, cộng với việc loài này có tuổi thọ dài và tốc độ trưởng thành muộn (30 tuổi).[2][25] Vào tháng 6 năm 2018, Cục Bảo tồn New Zealand đã phân loại cá mập voi vào loại “Di trú”[a] kèm theo định tính “An toàn hải ngoại” theo Hệ thống phân loại đe dọa của New Zealand.[26]

Có đến hàng trăm con cá mập voi bị giết hại mỗi năm ở Trung Quốc để lấy vây, da và dầu.[27]

Sinh sản[sửa | sửa mã nguồn]

Giống như phần lớn các loại cá mập khác, tập tính sinh sản của cá nhám voi vẫn chưa được rõ. Dựa trên nghiên cứu một quả trứng đơn lẻ tìm thấy ngoài khơi México vào năm 1956, người ta cho rằng chúng là loài đẻ trứng, nhưng con cá nhám voi cái có chửa bị bắt vào tháng 7 năm 1996 chứa tới 300 cá nhám voi con lại chỉ ra rằng chúng là loài đẻ con với sự phát triển của cơ chế noãn thai sinh.[4][28][29] Các trứng phát triển thành cá con trong cơ thể con mẹ bằng các nguồn dưỡng chất ngay trong trứng và con mẹ sẽ đẻ các con non dài 40 – 60 cm. Người ta tin rằng cá nhám voi đạt tới độ tuổi trưởng thành vào khoảng 30 năm và chúng có tuổi thọ ước tính khoảng 60 – 150 năm.[25]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Danh sách các loài cá mập

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Những loài “ghé thăm” New Zealand như một phần trong vòng đời của chúng.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Jurassic Shark (2000) documentary by Jacinth O’Donnell; broadcast on Discovery Channel, ngày 5 tháng 8 năm 2006
  2. ^ a ă â Norman, Brad (2000). Rhincodon typus. Sách đỏ 2006. IUCN 2006. Truy cập 11 tháng 5 năm 2006. Mục của CSDL có kèm lý giải tại sao loài này sắp nguy cấp.
  3. ^

    Hsu, Hua Hsun; Joung, Shoou Jeng; Hueter, Robert E.; Liu, Kwang Ming (2014). “Age and growth of the whale shark (Rhincodon typus) in the north-western Pacific”. Marine and Freshwater Research (bằng tiếng Anh). 65 (12): 1145. doi:10.1071/MF13330. ISSN 1323-1650.

  4. ^ a ă Colman, J. G. Froese, Ranier; Pauly, Daniel (biên tập). “Rhincodon typus”. FishBase. Truy cập ngày 17 tháng 9 năm 2006.
  5. ^ Perry, Cameron T.; Figueiredo, Joana; Vaudo, Jeremy J.; Hancock, James; Rees, Richard; Shivji, Mahmood (2018). “Comparing length-measurement methods and estimating growth parameters of free-swimming whale sharks (Rhincodon typus) near the South Ari Atoll, Maldives”. Marine and Freshwater Research (bằng tiếng Anh). 69 (10): 1487. doi:10.1071/MF17393. ISSN 1323-1650.
  6. ^ Martin, R. Aidan. “Rhincodon or Rhiniodon? A Whale Shark by Any Other Name”. ReefQuest Centre for Shark Research.
  7. ^ Brunnschweiler, J. M.; Baensch, H.; Pierce, S. J.; Sims, D. W. (3 tháng 2 năm 2009). “Deep-diving behaviour of a whale shark Rhincodon typus during long-distance movement in the western Indian Ocean”. Journal of Fish Biology. 74 (3): 706–14. doi:10.1111/j.1095-8649.2008.02155.x. PMID 20735591.
  8. ^ Norman, Brad. (2002). CITES identification manual. Environment Australia. ISBN 0-642-54900-1. OCLC 54364165.
  9. ^ Read, Timothy D.; Petit, Robert A.; Joseph, Sandeep J.; Alam, Md. Tauqeer; Weil, M. Ryan; Ahmad, Maida; Bhimani, Ravila; Vuong, Jocelyn S.; Haase, Chad P. (tháng 12 năm 2017). “Draft sequencing and assembly of the genome of the world’s largest fish, the whale shark: Rhincodon typus Smith 1828”. BMC Genomics. 18 (1): 532. doi:10.1186/s12864-017-3926-9. ISSN 1471-2164. PMC 5513125. PMID 28709399.
  10. ^ Phương, Hà (9 tháng 3 năm 2021). “Phát hiện mới về khả năng phục hồi sau chấn thương của cá nhám voi”. Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam. Truy cập 15 tháng 7 năm 2021.
  11. ^ a ă â “Whale Shark”. IUCN. 18 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2020.
  12. ^ “Drive to conserve whale shark”. The Hindu. 30 tháng 8 năm 2017 – qua www.thehindu.com.
  13. ^ Kaushik, Himanshu (30 tháng 8 năm 2014). “Whale sharks found off Gujarat coast no expats, they are Indian”. The Times of India. Truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2016.
  14. ^ Dekker, Stefanie (17 tháng 7 năm 2020). “What a privilege’: Swimming with endangered whale sharks in Qatar”. Aljazeera. Truy cập ngày 28 tháng 7 năm 2020.
  15. ^ de la Parra Venegas, Rafael; Hueter, Robert; Cano, Jaime González; Tyminski, John; Remolina, José Gregorio; Maslanka, Mike; Ormos, Andrea; Weigt, Lee; Carlson, Bruce; Dove, Alistair (29 tháng 4 năm 2011). “An Unprecedented Aggregation of Whale Sharks, Rhincodon typus, in Mexican Coastal Waters of the Caribbean Sea”. PLOS ONE. 4. 6 (4): e18994. Bibcode:2011PLoSO…618994D. doi:10.1371/journal.pone.0018994. PMC 3084747. PMID 21559508.
  16. ^ Morelle, Rebecca (17 tháng 11 năm 2008). “Shark-cam captures ocean motion”. BBC News. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2009.
  17. ^ Motta, Philip J; Maslanka, Michael; Hueter, Robert E; Davis, Ray L; de la Parra, Rafael; Mulvany, Samantha L; Habegger, Maria Laura; Strother, James A; Mara, Kyle R; Gardiner, Jayne M; Tyminski, John P; Zeigler, Leslie D (tháng 8 năm 2010). “Feeding anatomy, filter-feeding rate, and diet of whale sharks Rhincodon typus during surface ram filter feeding off the Yucatan Peninsula, Mexico”. Zoology (Jena). 113 (4): 199–212. doi:10.1016/j.zool.2009.12.001.
  18. ^ Schmidt, Jennifer V. (4 tháng 12 năm 2010). “Whale Sharks are BIG eaters!”. The Shark Research Institute. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2016.
  19. ^ a ă Compagno, Leonard J. V. (26 tháng 4 năm 2002). Sharks of the World: An Annotated and Illustrated Catalogue of Shark Species Known to Date: Bullhead, Mackerel and Carpet Sharks. 2. Food & Agriculture Organization of the United Nations (FAO). ISBN 978-92-5-104543-5.
  20. ^ “Favorite Wins of 2013”. Break.com. tr. 1:24. Bản gốc lưu trữ 26 Tháng tám năm 2014. Truy cập 24 tháng Chín năm 2014.
  21. ^ Robbins J. (18 July 2017). Watch Iranian fisherman ‘surf’ on top of a whale shark across the Persian Gulf. International Business Times. Retrieved on 29 September 2017
  22. ^ Whitehead, Darren Andrew (2014) Establishing a quantifiable model of whale shark avoidance behaviours to anthropogenic impacts in tourism encounters to inform management actions, University of Hertfordshire.
  23. ^ a ă Pictures of the Day: Tuesday, Aug. 04, 2009. Time magazine, “A 40-foot whale shark and a brave snorkeler swim off the South African coast.”
  24. ^ Hawes, Craig (2 April 2013) Snorkelling with whale sharks in Djibouti. gulfnews.com
  25. ^ a ă Trung, Phạm (17 tháng 9 năm 2020). “Cá mập voi – loài cá lớn nhất đại dương?”. Báo Quốc Tế. Truy cập 15 tháng 7 năm 2021.
  26. ^ Duffy, Clinton A. J.; Francis, Malcolm; Dunn, M. R.; Finucci, Brit; Ford, Richard; Hitchmough, Rod; Rolfe, Jeremy (2018). Conservation status of New Zealand chondrichthyans (chimaeras, sharks and rays), 2016 (PDF). Wellington, New Zealand: Department of Conservation. tr. 11. ISBN 9781988514628. OCLC 1042901090.
  27. ^ “Hundreds of sharks killed in China”. 5 tháng 2 năm 2014.
  28. ^ Joung, Shoou-Jeng; và đồng nghiệp (tháng 7 năm 1996). “The whale shark, Rhincodon typus, is a livebearer: 300 embryos found in one ‘megamamma’ supreme”. Environ. Biol. Fish. 46 (3): 219–223. doi:10.1007/BF00004997. S2CID 22250254.
  29. ^ Clark, Eugenie. “Frequently Asked Questions”. Sharklady. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 3 năm 2001. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2006.

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Colman, J.G. (tháng 12 năm 1997). “A review of the biology and ecology of the whale shark”. J. Fish Biol. 51 (6): 1219–34. doi:10.1111/j.1095-8649.1997.tb01138.x. PMID 29991171.
  • FAO web page on Whale shark
  • “Whale Sharks, Whale Shark Pictures, Whale Shark Facts”. Animals, Animal Pictures, Wild Animal Facts. 10 tháng 9 năm 2010.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

  • Rhincodon typus. FishBase. Ed. Ranier Froese và Daniel Pauly. Phiên bản tháng 11 năm 2004. N.p.: FishBase, 2004.
  • Rhincodon typus (TSN 159857)[liên kết hỏng]. ITIS. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2005.
  • marinebio: Cá nhám voi (Rhincodon typus)
  • ECOCEAN Thư viện ảnh nhận dạng cá nhám voi
  • WhalesharkProject.org
  • Dữ liệu và hình ảnh về cá nhám voi
  • Cá nhám voi
  • TimeAsia.com: Tốt nhất của châu Á, động vật tốt nhất có thể gặp được
  • Theo đường di trú của cá nhám voi[liên kết hỏng]
  • Cá nhám voi ngoài khơi Utila, quần đảo Vịnh, Honduras
  • Sơ lược về cá nhám voi[liên kết hỏng] và cá nhám voi tại Belize[liên kết hỏng] từ Nature Conservancy
  • NingalooReefTeach.com[liên kết hỏng]
  • Hình ảnh video về cá nhám voi


Lấy từ “https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Cá_nhám_voi&oldid=65234603”

Từ khóa: Cá nhám voi, Cá nhám voi, Cá nhám voi

Nguồn: Wikipedia

0/5 (0 Reviews)