[Wiki] Chủ đề:Âm nhạc/Bài viết chọn lọc là gì? Chi tiết về Chủ đề:Âm nhạc/Bài viết chọn lọc update 2021

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
< Chủ đề:Âm nhạc

Bước tới điều hướng
Bước tới tìm kiếm

Danh sách bài viết chọn lọc

Bài viết chọn lọc 1

Chủ đề:Âm nhạc/Bài viết chọn lọc/1

Nữ ca sĩ Sia

1000 Forms of Fear là album phòng thu thứ sáu trong sự nghiệp âm nhạc của nữ ca sĩ người Úc Sia. Album được phát hành vào ngày 4 tháng 7 năm 2014 thông qua các hãng đĩa Monkey Puzzle và RCA Records trên toàn cầu và Inertia ở Úc. Dòng nhạc chủ đạo của album là electropop, nhưng vẫn mang âm hưởng từ những thể loại reggae và hip hop. Phần ca từ của những ca khúc trong album tập trung vào tình cảnh nữ ca sĩ phải sống chật vật với nghiện ngập và rối loạn lưỡng cực.

Album bao gồm bốn đĩa đơn. Ca khúc đầu tiên mang tên “Chandelier”, được phát hành vào tháng 3 năm 2014, sau này trở thành một đĩa đơn xếp ở vị trí top 10 trên toàn cầu. Vị trí xếp hạng cao nhất của đĩa đơn trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100 là vị trí thứ tám, giúp “Chandelier” trở thành ca khúc đầu tiên của Sia với vai trò hát chính lọt vào bảng xếp hạng này. Bài hát thứ hai, “Big Girls Cry”, ra mắt vào tháng 6 năm 2014. Ca khúc thứ ba, phiên bản đơn ca do Sia trình bày của đĩa đơn “Elastic Heart”, trước đó từng là một nhạc phẩm hợp tác với nam ca sĩ The Weeknd và nhà sản xuất thu âm Diplo, được phát hành vào ngày 9 tháng 1 năm 2015, đã vươn lên top 20 trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100. “Fire Meet Gasoline”, phát hành vào ngày 19 tháng 6 năm 2015, được chọn làm đĩa đơn thứ tư và cuối cùng của album. Video âm nhạc chính thức của “Chandelier” đã có hơn 1,8 tỉ lượt xem tính đến tháng 7 năm 2018, còn video âm nhạc của “Elastic Heart” đã đạt được hơn 950 triệu lượt xem.

…Lưu trữ

Đọc chi tiết…

Bài viết chọn lọc 2

Chủ đề:Âm nhạc/Bài viết chọn lọc/2

Chân dung Bob Dylan

Robert Allen Zimmerman (nghệ danh Bob Dylan, sinh ngày 24 tháng 5 năm 1941) là nam ca sĩ, nhạc sĩ, diễn viên, họa sĩ, nhà văn và nhà biên kịch người Mỹ. Ông là một trong những nghệ sĩ có ảnh hưởng nhất tới nền âm nhạc nói riêng và văn hóa thế giới nói chung trong suốt năm thập kỷ trở lại đây. Những thành tựu lớn nhất của ông chủ yếu có được trong thập niên 1960 khi ông trực tiếp là người khởi xướng và đi đầu trong những phong trào xã hội. Rất nhiều ca khúc những ngày đầu của Dylan, tiêu biểu là “Blowin’ in the Wind” và “The Times They Are a-Changin'”, đã trở thành thánh ca của các hoạt động nhân quyền và phản đối chiến tranh. Bỏ lại sau lưng sự phục hưng của dòng nhạc folk vốn là bệ phóng ban đầu của ông, đĩa đơn “Like a Rolling Stone” (1965) đã trực tiếp thay đổi bộ mặt nền âm nhạc đại chúng lúc bấy giờ. Những sản phẩm của ông kể từ giữa thập niên 1960, hợp tác với nhiều nghệ sĩ rock đương thời, đều có được vị trí cao tại các bảng xếp hạng của Mỹ, đồng thời nhận được nhiều thái độ chê bai và gièm pha từ làn sóng nhạc folk.

Ca từ của Dylan là sự kết hợp phức tạp giữa tính chính trị, xã hội, triết học và cả văn học. Nội dung của chúng trái hoàn toàn với thứ nhạc pop thông thường và là tiền đề cho phong trào phản văn hóa. Vốn ngưỡng mộ phong thái của Little Richard và cách viết nhạc của những Woody Guthrie, Robert Johnson và Hank Williams, Dylan đã cộng hưởng và tạo nên phong cách của riêng mình. Sự nghiệp thu âm kéo dài tới hơn 50 năm của ông là sự trải nghiệm của rất nhiều phong cách truyền thống đa dạng của nước Mỹ, từ folk, blues và nhạc đồng quê cho tới nhạc phúc âm, rock ‘n’ roll và rockabilly cũng như nhạc folk từ Anh, Scotland và Ireland, đôi lúc pha trộn với jazz và swing. Thương hiệu trình diễn của Dylan là sử dụng harmonica, guitar và keyboard. Cho dù thay đổi rất nhiều nhạc sĩ cộng tác, ông vẫn đi lưu diễn đều đặn kể từ cuối thập niên 1980 mà sau này ông đặt tên Never Ending Tour. Sự dung hòa giữa hình ảnh nghệ sĩ trình diễn và nghệ sĩ thu âm chính là điểm nhấn trong sự nghiệp của Dylan, song những đóng góp lớn nhất của ông vẫn là dưới vai trò người viết nhạc.

…Lưu trữ

Đọc chi tiết…

Bài viết chọn lọc 3

Chủ đề:Âm nhạc/Bài viết chọn lọc/3

Chân dung Brian Epstein

Brian Samuel Epstein (sinh ngày 19 tháng 9 năm 1934 – mất ngày 27 tháng 8 năm 1967) là một doanh nhân trong lĩnh vực âm nhạc, được biết đến nhiều nhất trong vai trò quản lý của ban nhạc huyền thoại The Beatles cho tới khi ông qua đời. Ông cũng là quản lý của một số nghệ sĩ nổi tiếng khác, trong đó có Gerry & the Pacemakers, Billy J. Kramer, The Fourmost, Cilla Black, The Remo Four, và The Cyrkle. Công ty mà ông quản lý có tên là NEMS, theo tên gọi của cửa hàng cũ của gia đình ông (NEMS – North End Music Stores).

Epstein là người đầu tiên gửi những bản thu của The Beatles tới hãng thu âm Decca Records. Tuy nhiên hãng này không hào hứng và quyết định không ký hợp đồng với 4 chàng trai từ Liverpool. Sau khi bị hầu hết các hãng thu âm lớn ở Luân Đôn từ chối thu âm và sản xuất, Epstein quyết định tới EMI, và EMI đồng ý ký hợp đồng với điều kiện phải phát hành ấn phẩm của họ trong hệ thống của NEMS (NEMS là một chuỗi cửa hàng bán đồ miễn thuế có tiếng ở phía Bắc nước Anh). Nhà sản xuất George Martin đã đồng ý ký hợp đồng theo nhãn đĩa Parlophone khi ông còn chưa được biết về thỏa thuận thương mại giữa EMI và NEMS. Martin tiến hành buổi thu đầu tiên với The Beatles vào ngày 6 tháng 6 năm 1962. Martin nói việc Epstein đã chấp nhận nhượng bộ rất nhiều về mặt kinh tế để thu âm cho The Beatles chứng tỏ niềm đam mê và niềm tin của ông vào thành công của 4 chàng trai trẻ. Chính điều đó thuyết phục Martin ký hợp đồng với ban nhạc.

…Lưu trữ

Đọc chi tiết…

Bài viết chọn lọc 4

Chủ đề:Âm nhạc/Bài viết chọn lọc/4

Chân dung Céline Dion

Céline Marie Claudette Dion (sinh ngày 30 tháng 3 năm 1968) là nữ ca sĩ người Canada. Sinh ra trong một đại gia đình tại Charlemagne, tỉnh Québec, Dion nổi lên như một ngôi sao ở lứa tuổi thiếu niên trong cộng đồng Pháp ngữ sau khi người quản lý và đồng thời là chồng tương lai của cô, René Angélil cho vay nhà để chi trả đĩa nhạc đầu tiên của Dion. Dion lần đầu được biết đến vào thập niên 1980, khi giành chiến thắng tại hai cuộc thi World Popular Song Festival của Yamaha năm 1982 và đại diện cho đoàn Thụy Sĩ tham gia Eurovision Song Contest năm 1988. Vào năm 1990, cô phát hành album tiếng Anh mang tựa đề Unison, giúp cô trở thành nghệ sĩ nhạc pop có triển vọng tại Bắc Mỹ và các khu vực sử dụng tiếng Anh khác trên thế giới.

Trong thập niên 1990, với sự giúp đỡ của Angélil, danh tiếng của cô lan rộng toàn cầu khi hợp tác với hãng thu âm Epic Records và phát hành một vài album tiếng Anh xen kẽ với các album tiếng Pháp. Các album Falling into You (1996) và Let’s Talk About Love (1997) đều đạt chứng nhận đĩa Kim cương ở Hoa Kỳ, trong khi D’eux (1995) là album tiếng Pháp bán chạy nhất mọi thời đại. Cô còn ra mắt một loạt đĩa đơn quán quân trên toàn cầu, bao gồm “The Power of Love”, “Think Twice”, “Because You Loved Me”, “It’s All Coming Back to Me Now”, “My Heart Will Go On” và “I’m Your Angel]”. Khi đang ở đỉnh cao của sự nghiệp, Dion đột ngột tạm ngừng công tác trong ngành giải trí nhằm thu xếp công việc gia đình và dành thời gian chăm sóc người chồng được chẩn đoán mắc bệnh ung thư. Cô quay lại sự nghiệp âm nhạc vào năm 2002 và ký một hợp đồng tham gia biểu diễn trong A New Day… (2003–07), một chương trình kịch nghệ hằng đêm tại Caesars Palace, Paradise, Nevada. Đây là chương trình cố định thành công nhất mọi thời đại, thu về 385 triệu đô-la Mỹ.

…Lưu trữ

Đọc chi tiết…

Bài viết chọn lọc 5

Chủ đề:Âm nhạc/Bài viết chọn lọc/5

Chân dung ca sĩ kiêm nhạc sĩ Frank Ocean

Channel Orange là album phòng thu đầu tay của ca sĩ kiêm nhạc sĩ người Mỹ Frank Ocean, phát hành ngày 10 tháng 7 năm 2012 bởi Def Jam Recordings. Sau khi ra mắt mixtape năm 2011 Nostalgia, Ultra, Ocean bắt đầu bắt tay sáng tác album với người đồng sự Malay, người đã giúp anh sản xuất những bản thu của mixtape tại phòng thu EastWest Studio ở Hollywood. Ocean đã thoát khỏi sự phụ thuộc vào các đoạn nhạc mẫu như khi làm mixtape, và muốn tiếp cận những âm thanh và cấu trúc bài hát theo cách hoàn toàn khác khi thực hiện Channel Orange. Anh đã đặt tên album như một sự ám chỉ tới hiện tượng thần kinh cảm giác kèm tự vị – màu sắc và sắc màu mà anh cảm nhận vào mùa hè khi anh lần đầu biết yêu.

Là một album R&B và neo soul, Channel Orange có phong cách âm nhạc khá bất thường, với những bài hát lấy cảm hứng từ các cảnh lướt qua trong phim, và chịu ảnh hưởng từ các thể loại electro-funk, pop-soul, jazz-funk và âm nhạc ảo giác. Các bài hát trong album có đặc trưng là những giai điệu khác thường, cách phối khí theo không gian, những tiếng phách tốc độ trung bình, và sử dụng những nhạc cụ như đàn organ điện tử, bộ gõ câm, và bộ tổng hợp chuyển thế. Các sáng tác của Ocean khai thác những chủ đề như tình yêu đơn phương, sự tha hóa, giai cấp, và ma túy, với ca từ thể hiện sự cảm thông, những hình ảnh siêu thực, các câu nói đối thoại, và các câu chuyện mô tả những bản ngã đen tối của con người. Với chất giọng nam trung nhẹ và tinh tế, trong album anh thể hiện những đoạn hát tuôn ra một cách không cố định, đi cùng những khoảng giọng mái và nam cao xen kẽ.

…Lưu trữ

Đọc chi tiết…

Bài viết chọn lọc 6

Chủ đề:Âm nhạc/Bài viết chọn lọc/6

Chân dung nữ ca sĩ-diễn viên Cher.

Cher (sinh ngày 20 tháng 5 năm 1946) là nữ ca sĩ và diễn viên người Mỹ, được mô tả là hiện thân của nữ quyền trong ngành công nghiệp thống trị bởi nam giới. Bà nổi tiếng với chất giọng contralto đặc trưng và tính linh hoạt trong nhiều lĩnh vực giải trí, cũng như khả năng áp dụng nhiều diện mạo và phong cách trong sự nghiệp kéo dài 5 thập kỷ, giúp bà được vinh danh là “Nữ thần nhạc Pop.”

Cher bắt đầu nổi danh vào năm 1965, lúc còn là thành viên trong nhóm song ca nhạc folk rock Sonny & Cher, sau khi bài hát “I Got You Babe” đạt ngôi quán quân tại các bảng xếp hạng Hoa Kỳ và Anh Quốc. Sau đó, bà bắt đầu sự nghiệp đơn ca và phát hành bài hát ăn khách “Bang Bang (My Baby Shot Me Down)” vào năm 1966. Bà trở nên phổ biến trên truyền hình vào thập niên 1970, với chương trình The Sonny & Cher Comedy Hour, thu hút hơn 30 triệu người xem mỗi tuần trong vòng 3 năm lên sóng; và Cher. Bà theo đuổi hình tượng của một nhà tiên phong trong thời trang, khi diện nhiều bộ trang phục công phu trong các chương trình truyền hình của mình. Đồng thời, bà cũng phát triển sự nghiệp đơn ca với các đĩa đơn dẫn đầu bảng xếp hạng Billboard Hot 100 Hoa Kỳ “Gypsys, Tramps & Thieves”, “Half-Breed” và “Dark Lady”. Sau khi ly hôn Sonny Bono vào năm 1975, Cher trở lại làng nhạc vào năm 1979 với album mang phong cách disco, Take Me Home và thu về 300.000 đô-la Mỹ mỗi tuần trong chương trình cố định 1980 – 82 tại Las Vegas.

…Lưu trữ

Đọc chi tiết…

Bài viết chọn lọc 7

Chủ đề:Âm nhạc/Bài viết chọn lọc/7

Chân dung nữ ca sĩ Christina Aguilera.

Christina María Aguilera (sinh ngày 18 tháng 12 năm 1980) là một nữ ca sĩ nhạc Pop/R&B, người viết bài hát và diễn viên người Mỹ. Cô cũng được nhắc đến trên sân khấu bằng nghệ danh viết tắt là XtinaBaby Jane. Cô được công chúng trao tặng danh hiệu “Giọng ca của thế hệ” và “Nữ hoàng của Sự đổi mới” (“Queen of Reinvention“). Aguilera được xem là một biểu tượng văn hóa nổi bật trong cuối thập niên 1990 và trong thập niên 2000 nhờ những ấn hành nhạc cũng như phong cách ngoại hình luôn được đổi mới. Cô bắt đầu xuất hiện trước công chúng trong một số chương trình truyền hình bao gồm Star SearchThe Mickey Mouse Club.

Sau khi thu âm bài hát “Reflection” cho bộ phim Mulan của hãng Walt Disney, cô có được hợp đồng với hãng RCA và bắt đầu nổi tiếng khi phát hành album mang chính tên cô mang thể loại teen pop rất thịnh hành lúc đó vào năm 1999. Sau đó, cô lột xác trong Stripped (2002) với những thể loại mới và đa dạng gồm R&B, pop rock hay soul. Stripped giúp Aguilera trở thành một “biểu tượng sex” khi mang hơi hướm của tình dục vào các bài hát cũng như trong các video âm nhạc như “Dirrty”. Năm 2006, Aguilera trở lại trong album Back to Basics với phong cách âm nhạc của những năm 1920-1940. Các album BionicLotus phát hành lần lượt vào năm 2010 và 2012 với những thành công không đáng kể. Ngoài âm nhạc, Aguilera còn được các nhà phê bình khen ngợi việc diễn xuất của cô trong phim điện ảnh nhạc kịch Burlesque (2010). Các ca khúc đã gắn liền với tên tuổi của cô bao gồm “Genie in a Bottle”, “Lady Marmalade”, “Dirrty”, “Beautiful”, “Fighter” và “Ain’t No Other Man”.

…Lưu trữ

Đọc chi tiết…

Bài viết chọn lọc 8

Chủ đề:Âm nhạc/Bài viết chọn lọc/8

Chân dung Steve Lillywhite, nhà sản xuất của ca khúc "City of Angels".

City of Angels” là một bài hát của ban nhạc rock người Mỹ Thirty Seconds to Mars trích từ album phòng thu thứ tư Love, Lust, Faith and Dreams. Ca khúc do giọng ca chính Jared Leto sáng tác kiêm vai trò đồng sản xuất với Steve Lillywhite. “City of Angels” lấy cảm hứng từ trải nghiệm của Leto về cuộc sống ở thành phố Los Angeles bên gia đình, cùng với những ảnh hưởng từ nền văn hóa nơi đây. Mang đậm chất liệu synthrock và phong cách âm nhạc từ những năm 1980, bài hát là một ví dụ tiêu biểu cho tính muôn dạng và phá cách của album. Ban nhạc phát hành “City of Angels” dưới dạng đĩa đơn quảng bá vào ngày 30 tháng 7 năm 2013 tại Hoa Kỳ, đồng thời cũng phổ biến trên các đài phát thanh âm nhạc đương đại ở châu Âu vào ngày 25 tháng 10 năm 2013. Ban nhạc còn phát hành một phiên bản piano của ca khúc với định dạng nhạc số vào tháng 7 năm 2014.

“City of Angels” đón nhận nhiều lời tán dương từ các nhà phê bình âm nhạc, phần lớn họ đánh giá cao quá trình sáng tác, lời bài hát và phong cách mà Leto trình diễn. Sau khi phát hành album Love, Lust, Faith and Dreams, ca khúc đã xuất hiện ở nửa cuối bảng xếp hạng UK Rock Charts. Khi phát hành dưới dạng đĩa đơn, “City of Angels” tiếp tục lọt vào bảng xếp hạng này và vươn lên vị trí số 21, đồng thời giành hạng 8 trên bảng xếp hạng Alternative Songs tại Hoa Kỳ. Bài hát cũng có những thành công nhất định trên một số thị trường quốc tế nhờ doanh số tải album kỹ thuật số.

…Lưu trữ

Đọc chi tiết…

Bài viết chọn lọc 9

Chủ đề:Âm nhạc/Bài viết chọn lọc/9

Những thành viên cuối cùng của Destiny's Child; từ trái sang phải: Beyoncé Knowles, Kelly Rowland, Michelle Williams.

Destiny’s Child là một nhóm nhạc nữ R&B người Mỹ gồm ba thành viên chính thức sau cùng là giọng nữ chính Beyoncé Knowles cùng hai thành viên là Kelly Rowland và Michelle Williams. Nhóm được thành lập năm 1997 tại Houston, Texas với tên gọi là Girl’s Tyme, gồm Knowles, Rowland, LaTavia Roberson và LeToya Luckett. Vài năm sau đó, họ đã ký hợp đồng với hãng thu Columbia Records và đổi tên nhóm. Destiny’s Child sau đó đã gặt hái được nhiều thành công với album phòng thu thứ hai của mình, The Writing’s on the Wall, gồm hai đĩa đơn quán quân là “Bills, Bills, Bills” và “Say My Name”.

Sau những thành công ấy chính là những mâu thuẫn nội bộ của nhóm, Roberson và Luckett đã kiện quản lý của nhóm là Matthew Knowles chia lợi nhuận của nhóm không đều cho các thành viên. Sau đó, nhóm đã thay thế hai thành viên mới là Williams và Farrah Franklin. Nhưng vào năm 2000, Franklin cũng đã rời nhóm và chỉ còn lại ba thành viên tiếp tục. Nhóm đã phát hành album thứ ba của mình mang tên Survivor, một trong những album thành công nhất của nhóm cùng các đĩa thành công trên thế giới như “Independent Women”, “Survivor” và “Bootylicious”. Vào 2002, Destiny’s Child tuyên bố rằng nhóm sẽ tạm thời tan rã để mỗi thành viên có thể phát triển sự nghiệp solo của mình. Sau đó, nhóm đã trở lại vào năm 2004 với album tiếp theo mang tên, Destiny Fulfilled. Trong khoản thời gian thực hiện tour diễn thế giới của mình, nhóm đã tuyên bố rằng họ sẽ chính thức tan rã và sẽ đi theo sự nghiệp solo riêng của mình.

…Lưu trữ

Đọc chi tiết…

Bài viết chọn lọc 10

Chủ đề:Âm nhạc/Bài viết chọn lọc/10

Chân dung Eric Clapton.

Eric Patrick Clapton (sinh ngày 30 tháng 3 năm 1945) là nghệ sĩ guitar, nhạc sĩ và ca sĩ người Anh. Ông là người duy nhất được 3 lần xướng tên tại Đại sảnh Danh vọng Rock and Roll: 1 lần trong vai trò nghệ sĩ solo, và hai lần khác là thành viên của các ban nhạc The Yardbirds và Cream. Clapton được công nhận là một trong những nghệ sĩ guitar xuất sắc nhất và ảnh hưởng nhất mọi thời đại. Ông được xếp ở vị trí số 2 trong danh sách “100 nghệ sĩ guitar vĩ đại nhất” của tạp chí Rolling Stone và số 4 tại danh sách “Top 50 tay guitar vĩ đại nhất” của hãng Gibson. Ông cũng có tên trong danh sách “100 tay guitar điện xuất sắc nhất” của tạp chí Time.

Giữa thập niên 1960, Clapton rời The Yardbirds để chơi nhạc blues trong ban nhạc John Mayall & the Bluesbreakers. Sau khi chia tay Mayall, ông thành lập nên bộ ba Cream với tay trống Ginger Baker và cây bass Jack Bruce mà Clapton đã tạo ra “Thứ nhạc pop psychedelic nghệ thuật trên nền nhạc blues”. Trong hầu hết thập niên 1970, ông bị ảnh hưởng bởi phong cách từ JJ Cale cũng như phong cách reggae từ Bob Marley. Chính bản hát lại bởi Clapton ca khúc “I Shot the Sheriff” của Marley đã giúp nhạc reggae đến được với công chúng. 2 ca khúc nổi tiếng nhất của ông có lẽ là “Layla” (thu âm cùng Derek and the Dominos) và “Crossroads” (hát lại của Robert Johnson). Sau cái chết của người con trai Conor vào năm 1991, ông đã viết nên ca khúc “Tears in Heaven” cho đàn acoustic rồi được trình bày trong liveshow và album theo kèm Unplugged.

…Lưu trữ

Đọc chi tiết…

Bài viết chọn lọc 11

Chủ đề:Âm nhạc/Bài viết chọn lọc/11

Chân dung George Harrison.

George Harrison (MBE; sinh ngày 25 tháng 2 năm 1943, mất ngày 29 tháng 11 năm 2001) là một nhạc sĩ người Anh, là ca sĩ, người viết nhạc và nổi tiếng trong vai trò chơi guitar lead của ban nhạc The Beatles. Cho dù John Lennon và Paul McCartney vẫn luôn là những người sáng tác chính cho nhóm, song các album của họ bao giờ cũng xuất hiện ít nhất 1 ca khúc của Harrison, trong đó có rất nhiều ca khúc nổi tiếng như “While My Guitar Gently Weeps”, “Here Comes the Sun” và “Something” – ca khúc được hát lại nhiều thứ hai của The Beatles.

Âm nhạc của Harrison sớm được ảnh hưởng từ các nghệ sĩ như Big Bill Broonzy, George Formby và Django Reinhardt; sau này, những Chet Atkins, Chuck Berry và Ry Cooder lại là những người gây ảnh hưởng tới ông. Năm 1965, chính ông là người dẫn dắt The Beatles bước theo những âm hưởng nhạc folk rock từ The Byrds và Bob Dylan, rồi tiếp đó là âm nhạc Ấn Độ điển hình là tiếng đàn sitar trong ca khúc “Norwegian Wood (This Bird Has Flown)”. Ông dần quan tâm tới Hare Krishna và trở thành tín đồ của văn hóa Ấn Độ và huyền học, từ đó giới thiệu với ban nhạc và dẫn tới hành trình khám phá âm nhạc phương Đông của nhóm qua các nhạc cụ Ấn Độ. Sau khi ban nhạc tan rã vào năm 1970, Harrison cho phát hành album All Things Must Pass với 2 đĩa đơn theo kèm. Năm 1971, ông tổ chức Concert for Bangladesh cùng Ravi Shankar, tiền thân của các chương trình trình diễn từ thiện mà trong đó có cả Live Aid. Ngoài ra, Harrison cũng tham gia sản xuất âm nhạc và thậm chí cả làm phim. Ông từng lập ra nhãn đĩa Dark Horse Records vào năm 1974, và đồng sáng lập hãng HandMade Films vào năm 1978.

…Lưu trữ

Đọc chi tiết…

Bài viết chọn lọc 12

Chủ đề:Âm nhạc/Bài viết chọn lọc/12

Chân dung nữ ca sĩ Rihanna.

Good Girl Gone Bad: Reloaded là phiên bản tái phát hành của album phòng thu thứ ba của nữ ca sĩ người Barbados Rihanna mang tên Good Girl Gone Bad (2007). Album được phát hành lần đầu dưới định dạng nhạc số tại một số quốc gia vào ngày 2 tháng 6 năm 2008 thông qua các hãng đĩa Def Jam Recordings và SRP Records. Trong album này, Rihanna đã bổ sung thêm ba bài hát mới so với album gốc cùng một đĩa DVD bao gồm những cảnh quay hậu trường được ghi lại trong quá trình thực hiện chuyến lưu diễn toàn cầu Good Girl Gone Bad Tour (2007–2009). Nhằm tạo ra các chất liệu âm nhạc mới, nữ ca sĩ đã hợp tác cùng với các nhà sản xuất thu âm quen thuộc với cô như Ne-Yo, Stargate, C. “Tricky” Stewart cùng một số các nhà sản xuất khác như Brian Kennedy, Mark Endert, Mike Elizondo, Mark “Spike” Stent và nhóm nhạc nam Maroon 5.

Good Girl Gone Bad: Reloaded đã nhận được nhiều phản hồi tích cực từ giới phê bình, đặc biệt cho phần âm nhạc và những chất liệu mới được bổ sung so với album gốc. Tuy nhiên, một số nhà chuyên môn lại cho rằng việc ra mắt album này là không cần thiết khi chỉ có ba bài hát mới được thêm vào. Trong số những giải thưởng và đề cử đã đạt được, ba bài hát kể trên đã nhận được hai đề cử giải Grammy tại lễ trao giải năm 2009. Đĩa đơn “Disturbia” đã giành được một đề cử giải Grammy tại hạng mục Thu âm nhạc dance xuất sắc nhất, trong khi ca khúc “If I Never See Your Face Again” lại được đề cử cho hạng mục Hợp tác giọng pop xuất sắc nhất.

…Lưu trữ

Đọc chi tiết…

Bài viết chọn lọc 13

Chủ đề:Âm nhạc/Bài viết chọn lọc/13

Gaga biểu diễn "Government Hooker" trong chuyến lưu diễn Born This Way Ball (2012–2013).

Government Hooker” là một bài hát của nữ ca sĩ người Mỹ Lady Gaga, trích từ album phòng thu thứ hai của cô mang tên Born This Way (2011). Để phục vụ việc sáng tác và sản xuất bài hát, Gaga đã hợp tác với các nhà sản xuất thu âm gồm Fernando Garibay, DJ White Shadow và DJ Snake. Bài hát này từng là một bản nhạc demo mà Shadow và DJ Snake cùng sản xuất. Quá trình thu âm bài hát bắt đầu từ năm 2010 tại phòng thu âm Studio at the Palms tọa lạc tại thành phố Las Vegas.

“Government Hooker” là một bài hát thuộc thể loại synth-pop và mang những âm hưởng từ các dòng nhạc techno, trance và industrial. Bài hát xoay quanh chủ đề nữ quyền, nói bóng gió đến mối tình nghi vấn giữa tổng thống Mỹ John F. Kennedy với nữ diễn viên người Mỹ Marilyn Monroe. Các nhà phê bình đã dành nhiều lời khen đến bài hát kể từ khi nó ra mắt vì phần âm nhạc cùng với chủ đề đen tối và tế nhị mà nó đề cập. Mặc dù không được phát hành dưới dạng đĩa đơn nhưng “Government Hooker” vẫn được xếp hạng tại Hàn Quốc và từng giành được vị trí thứ 16 trên bảng xếp hạng Hot Dance/Electronic Digital Songs của Hoa Kỳ. Gaga từng thể hiện bài hát trong chuyến lưu diễn Born This Way Ball (2012–2013) và tại chương trình hòa nhạc thường trú ở thành phố Las Vegas mang tên Lady Gaga Enigma (2018–2019) của nữ ca sĩ.

…Lưu trữ

Đọc chi tiết…

Bài viết chọn lọc 14

Chủ đề:Âm nhạc/Bài viết chọn lọc/14

Ảnh chụp trailer tại Mỹ của phim Help!.

Help! là album phòng thu thứ năm của ban nhạc The Beatles, được thu âm và sản xuất bởi George Martin. Album được phát hành ngày 6 tháng 8 năm 1965 tại Anh, và 1 tuần sau tại Mỹ. Album là đĩa nhạc từ bộ phim cùng tên năm 1965. Ban nhạc đã tiến hành thu âm trong khoảng thời gian xen kẽ giữa các buổi diễn của mình. Với Help!, The Beatles đã quan tâm nhiều hơn tới phòng thu, nhất là kỹ thuật ghi đè. Họ phát hiện ra nhiều nhạc cụ và hiệu ứng âm thanh mới, thứ mà họ sử dụng sau này trong album bước ngoặt của họ, Rubber Soul.

Với Help!, The Beatles đã đi sâu vào các khía cạnh của văn hóa nhạc pop. Phần mặt A là bản soundtrack của bộ phim, trong đó có một số ca khúc nổi tiếng như “You’re Going to Lose That Girl”, nhất là “Help!” và “Ticket to Ride” đều đã được phát hành dưới dạng đĩa đơn. Phần mặt A này cũng là phần đĩa than của album. Phần mặt B bao gồm 7 bài hát thu âm thêm xung quanh quá trình làm phim và ghi âm album, trong đó có một trong những bản nhạc nổi tiếng nhất lịch sử, “Yesterday”, thu âm bởi Paul McCartney với guitar cùng dàn tứ tấu dây.

…Lưu trữ

Đọc chi tiết…

Bài viết chọn lọc 15

Chủ đề:Âm nhạc/Bài viết chọn lọc/15

Áp phích quảng cáo ca khúc "Imagine" của Billboard năm 1971.

Imagine” là ca khúc do nam nhạc sĩ-ca sĩ người Anh John Lennon sáng tác và thể hiện. Đây là đĩa đơn bán chạy nhất trong sự nghiệp đơn ca của ca sĩ này. Lời bài hát cổ vũ người nghe hãy tưởng tượng ra một thế giới hoà bình, không có biên giới chia cắt các quốc gia và cũng không có sự chia rẽ giữa các tôn giáo và sắc tộc, cùng với đó thể hiện mong muốn rằng xã hội loài người sẽ sống một cuộc sống không chịu sự chi phối của của cải vật chất.

Lennon và Yoko Ono đồng sản xuất đĩa đơn này cũng như album cùng tên với Phil Spector. Quá trình thu âm bắt đầu tại phòng thu tại gia của Lennon tại Công viên Tittenhurst, Anh vào tháng 5 năm 1971. Công đoạn ghi đè cuối cùng diễn ra tại phòng thu Record Plant, ở thành phố New York vào tháng 7. Một tháng sau khi phát hành dưới dạng đĩa than LP vào tháng 9, Lennon cho ra mắt “Imagine” dưới dạng một đĩa đơn tại Hoa Kỳ; ca khúc lên tới vị trí thứ ba trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100 còn bản thu trên đĩa than LP đứng đầu bảng xếp hạng Anh quốc vào tháng 11, sau này trở thành album có thành công chuyên môn và thương mại cao nhất trong sự nghiệp solo của Lennon. Mặc dù ban đầu không được phát hành dưới dạng đĩa đơn ở Vương quốc Anh, sau này vào năm 1975 đĩa đơn đã được phát hành để quảng bá cho một đĩa LP tổng hợp và ca khúc đã lên tới vị trí thứ sáu trên bảng xếp hạng cùng năm đó. Ca khúc đã bán được trên 1,6 triệu bản sao tại Anh quốc; đến thời điểm tháng 12 năm 1980 sau khi Lennon qua đời; ca khúc lại một lần nữa vươn lên vị trí thứ nhất trên bảng xếp hạng.

…Lưu trữ

Đọc chi tiết…

Bài viết chọn lọc 16

Chủ đề:Âm nhạc/Bài viết chọn lọc/16

Chân dung John Lennon

John Winston Ono Lennon (tên khai sinh: John Winston Lennon; MBE; 9 tháng 10 năm 1940 – 8 tháng 12 năm 1980) là nhạc sĩ, ca sĩ người Anh, là người sáng lập và thủ lĩnh của ban nhạc huyền thoại The Beatles – một trong những ban nhạc thành công và được ngưỡng mộ nhất lịch sử âm nhạc thế giới. Cùng với Paul McCartney, ông đã tạo nên bộ đôi sáng tác vĩ đại nhất của thế kỷ 20.

Sinh ra ở Liverpool, cậu bé Lennon được lớn lên giữa làn sóng skiffle của những năm 50-60. Ở tuổi thiếu niên, ông thành lập nên The Quarrymen, tiền thân của The Beatles sau này. Sau khi ban nhạc tan rã vào cuối thập niên 60, Lennon tiếp tục sự nghiệp solo thành công với những album ấn tượng như John Lennon/Plastic Ono BandImagine, đặc biệt với những ca khúc bất diệt như “Give Peace a Chance” và “Imagine”. Sau khi cưới Ono Yōko vào năm 1969, ông đổi tên mình thành John Ono Lennon. Kể từ năm 1975, Lennon tự tách mình khỏi đời sống âm nhạc để chăm sóc con trai Sean trước khi trở lại hợp tác với Ono trong album Double Fantasy vào năm 1980. Chỉ đúng 3 tuần sau khi album được phát hành, ông bị ám sát trước cửa nhà riêng ở New York bởi một kẻ cuồng tín.

…Lưu trữ

Đọc chi tiết…

Bài viết chọn lọc 17

Chủ đề:Âm nhạc/Bài viết chọn lọc/17

Katy Perry tại lễ trao giải iHeartRadio Music Awards 2019.

Katheryn Elizabeth Hudson (sinh ngày 25 tháng 10 năm 1984); nghệ danh Katy Perry) là nữ ca sĩ kiêm sáng tác nhạc người Mỹ. Sinh ra ở Santa Barbara bang California, thời thơ ấu, cô thường hát trong nhà thờ. Sau đó, cô theo đuổi dòng nhạc Phúc âm ở lứa tuổi thiếu niên. Cô ký hợp đồng với Red Hill Records và phát hành album đầu tay Katy Hudson năm 16 tuổi (2001), tuy vậy, album này gặp thất bại về doanh số. Năm kế tiếp, cô chuyển đến Los Angeles và hợp tác với những nhà sản xuất Glen Ballard, Dr. Luke và Max Martin. Sau khi chuyển nghệ danh thành Katy Perry và bị The Island Def Jam Music Group và Columbia Records sa thải, cô ký hợp đồng thu âm cùng hãng Capitol Records vào tháng 4 năm 2007.

Perry bắt đầu nổi tiếng khi phát hành đĩa đơn “I Kissed a Girl” cùng album phòng thu thứ hai One of the Boys (2008). Album phòng thu thứ ba, Teenage Dream (2010) tiếp tục ra mắt hàng loạt các đĩa đơn đứng đầu Billboard Hot 100 như “California Gurls”, “Teenage Dream”, “Firework”, “E.T.”, “Last Friday Night (T.G.I.F.)”, cũng như đĩa đơn đạt đến top 3 “The One That Got Away”. Đây là album đầu tiên của một nữ nghệ sĩ có 5 đĩa đơn ăn khách đạt vị trí quán quân trong lịch sử Billboard Hot 100 và là album thứ hai trong tổng thể, chỉ đứng sau Bad (1987) của Michael Jackson. Vào tháng 3 năm 2012, cô tái bản lại album này với tên gọi Teenage Dream: The Complete Confection, gồm có đĩa đơn quán quân “Part of Me” và Á quân “Wide Awake”. Album phòng thu thứ tư, Prism (2013) cho phát hành 5 đĩa đơn, trong đó có 2 đĩa đơn quán quân “Roar” và “Dark Horse”, cô trở thành nghệ sĩ đầu tiên có nhiều video đạt hơn một tỷ lượt xem tại Vevo cho hai bài hát này. Album thứ năm của cô, Witness, phát hành vào năm 2017, là album quán quân thứ ba của cô trên Billboard 200 của Hoa Kỳ.

…Lưu trữ

Đọc chi tiết…

Bài viết chọn lọc 18

Chủ đề:Âm nhạc/Bài viết chọn lọc/18

Chân dung nữ ca sĩ Madonna.

Madonna Louise Veronica Ciccone (sinh ngày 16 tháng 8 năm 1958) là nữ ca sĩ, người viết bài hát, diễn viên và thương nhân người Mỹ. Bà nổi danh trong việc phá bỏ giới hạn nội dung ca từ trong văn hóa âm nhạc đại chúng và hình tượng trong các video âm nhạc, thường xuyên xuất hiện trên MTV. Madonna còn được biết đến bởi khả năng biến hóa âm nhạc và hình ảnh của mình, đồng thời giữ vững quyền tự chủ trong ngành công nghiệp thu âm. Các nhà phê bình thường đón nhận các sản phẩm âm nhạc của bà một cách nồng nhiệt, cho dù gây nên một vài tranh cãi. Được mệnh danh là “Nữ hoàng nhạc pop”, bà là nguồn cảm hứng cho nhiều nghệ sĩ khác trên toàn thế giới.

Sinh ra tại Thành phố Bay, Michigan, Madonna tìm đến thành phố New York để theo đuổi nghiệp vũ công vào năm 1977. Sau khi trình diễn trong nhóm nhạc Breakfast Club và Emmy, bà ký kết hợp đồng cùng Sire Records (một hãng thu âm con của Warner Bros. Records) vào năm 1982 và phát hành album đầu tay cùng tên trong năm kế tiếp. Bà tiếp tục thực hiện một chuỗi các album thành công về thương mại, bao gồm chủ nhân giải Grammy Ray of Light (1998) và Confessions on a Dance Floor (2005). Trong xuyên suốt sự nghiệp, Madonna đã sáng tác và sản xuất cho hầu hết các bài hát của mình, bao gồm nhiều đĩa đơn đạt vị trí số 1 tại các bảng xếp hạng thu âm như “Like a Virgin”, “Into the Groove”, “Papa Don’t Preach”, “Like a Prayer”, “Vogue”, “Frozen”, “Music”, “Hung Up” và “4 Minutes”.

…Lưu trữ

Đọc chi tiết…

Bài viết chọn lọc 19

Chủ đề:Âm nhạc/Bài viết chọn lọc/19

Chân dung nữ ca sĩ Mariah Carey.

Mariah Carey (sinh ngày 27 tháng 3 năm 1969 hoặc 1970) là nữ ca sĩ kiêm người viết bài hát, nhà sản xuất thu âm và diễn viên người Mỹ. Bà nổi danh sau khi phát hành album phòng thu đầu tay Mariah Carey vào năm 1990, giành chứng nhận đa Bạch kim và ra mắt 4 đĩa đơn quán quân bảng xếp hạng Billboard Hot 100 Hoa Kỳ; “Vision of Love”, “Someday”, “I Don’t Wanna Cry” và “Love Takes Time”. Dưới sự dìu dắt của người chồng là giám đốc hãng đĩa Columbia Records Tommy Mottola, Carey tiếp tục gặt hái thành công với các album Emotions (1991), Music Box (1993) và Merry Christmas (1994), trở thành nghệ sĩ thành công nhất của hãng đĩa Columbia. Daydream (1995) làm nên lịch sử khi “One Sweet Day”, đĩa đơn thứ hai do Carey song ca cùng ban nhạc Boyz II Men, dẫn đầu Billboard Hot 100 trong 16 tuần liên tiếp và vẫn đang là đĩa đơn quán quân có thời gian trụ hạng dài thứ hai trong lịch sử xếp hạng Hoa Kỳ. Trong thời gian thu âm album này, Carey bắt đầu chuyển đổi từ phong cách R&B và ballad nhẹ nhàng ban đầu sang giai điệu hip-hop. Sự thay đổi trở nên rõ rệt hơn khi Carey phát hành Butterfly (1997), cùng lúc khi bà đang trong quá trình chia tay với Mottola.

Carey rời hãng Columbia vào năm 2000 và ký một hợp đồng thu âm trị giá 100 triệu đô-la Mỹ cùng Virgin Records America. Trước khi phát hành bộ phim Glitter (2001), bà trải qua hàng loạt những suy sụp nặng nề về thể chất lẫn tinh thần. Sau khi nhận được những phản hồi tiêu cực đến bộ phim lẫn album, hãng thu âm đã cắt đứt hợp đồng cùng bà với 50 triệu đô-la Mỹ. Bà ký một hợp đồng thu âm mới cùng Island Records vào năm 2002 và tiếp tục trải qua một giai đoạn thất bại khác, trước khi trở lại vị trí hàng đầu trên các bảng xếp hạng cùng The Emancipation of Mimi (2005). Đĩa đơn thứ hai trích từ album, “We Belong Together” trở thành đĩa đơn thành công nhất của bà trong thập kỷ 2000 và được vinh danh là “Bài hát của thập niên” bởi Billboard. Carey tiếp tục sự nghiệp điện ảnh trong Precious (2009), mang về cho bà “Giải thưởng diễn xuất đột phá” tại Liên hoan phim quốc tế Palm Springs.

…Lưu trữ

Đọc chi tiết…

Bài viết chọn lọc 20

Chủ đề:Âm nhạc/Bài viết chọn lọc/20

Michael Jackson trình diễn tại Viên, Áo vào tháng 6 năm 1988

Michael Joseph Jackson (29 tháng 8 năm 1958 – 25 tháng 6 năm 2009) là một ca sĩ, nhạc sĩ, nhà sản xuất thu âm, vũ công và diễn viên người Mỹ. Ông được mệnh danh là “Vua nhạc pop” hay “Ông hoàng nhạc pop” (tiếng Anh: “King of pop”). Với những đóng góp không ngừng nghỉ của ông đối với ngành công nghiệp âm nhạc, khiêu vũ, thời trang cùng những biến động xung quanh cuộc sống cá nhân, Jackson đã trở thành một trong những cái tên phổ biến nhất nền văn hóa nghệ thuật toàn cầu trong hơn bốn thập kỷ qua.

Là người con thứ 8 trong gia đình nhà Jackson, ông bắt đầu sự nghiệp âm nhạc chuyên nghiệp từ năm lên 11 với vị trí thành viên út trong nhóm nhạc The Jackson 5 và khởi nghiệp đơn ca năm 1971. Trong những năm đầu của thập niên 80, Jackson được xem là nghệ sĩ giải trí thành công nhất. Các video ca nhạc của ông như “Beat It”, “Billie Jean” và “Thriller” đã phá vỡ rào cản chủng tộc và nâng tầm giá trị của video ca nhạc như một hình thức nghệ thuật và công cụ quảng cáo. Sự phổ biến của những video này sau đó đã giúp kênh truyền hình âm nhạc non trẻ lúc bấy giờ là MTV trở nên nổi tiếng. Những video sau này như “Black or White” hay “Scream” tiếp tục khẳng định vị trí của ông trên MTV trong thập niên 1990, cũng như xây dựng danh tiếng như một nghệ sĩ lưu diễn đơn ca. Với những màn biểu diễn trên sân khấu hay trong video ca nhạc, Jackson giúp phổ biến nhiều màn vũ đạo phức tạp như robot hay moonwalk. Thêm vào đó, giọng ca và phong cách hát đặc biệt của ông cũng ảnh hưởng lớn tới nhiều thế hệ nghệ sĩ nhạc hip-hop, pop và R&B đương đại sau này.

…Lưu trữ

Đọc chi tiết…

Bài viết chọn lọc 21

Chủ đề:Âm nhạc/Bài viết chọn lọc/21

Mỹ Tâm trình diễn trong đêm nhạc MTV EXIT, diễn ra tại Hà Nội vào ngày 26 tháng 5 năm 2012

Phan Thị Mỹ Tâm (sinh ngày 16 tháng 1 năm 1981) là nữ ca sĩ, nhạc sĩ và diễn viên người Việt Nam. Sinh ra tại Đà Nẵng, cô sớm bộc lộ năng khiếu về âm nhạc và liên tiếp giành chiến thắng tại nhiều cuộc thi ca hát lớn nhỏ lúc còn ở độ tuổi thiếu niên. Cô khởi nghiệp ca hát bằng album đầu tay Mãi yêu (2001) và album kế tiếp Đâu chỉ riêng em (2002) không lâu sau khi tốt nghiệp thủ khoa tại trường Nhạc viện Thành phố Hồ Chí Minh. Album phòng thu thứ ba, Yesterday & Now (2003) giúp cô lập kỷ lục về doanh số bán ra tại thị trường trong nước.

Trong những năm còn lại của thập niên 2000, Mỹ Tâm phát hành một chuỗi các sản phẩm âm nhạc thành công về mặt chuyên môn và thương mại, bao gồm các album đề cử cho giải Cống hiến Hoàng hôn thức giấc (2005), Vút bay (2006), Trở lại (2008). Năm 2004, Mỹ Tâm tổ chức chương trình biểu diễn “Liveshow Ngày ấy & bây giờ”, có mức kinh phí đầu tư lớn nhất tại Việt Nam lúc đó. Trong thập niên 2010, cô thực hiện chuyến lưu diễn “Heartbeat” và phát hành Tâm (2013) và Tâm 9 (2017), liên tiếp gặt hái thành công thương mại. Bên cạnh việc tự sáng tác, cô còn hát các ca khúc của tác giả khác như “Tóc nâu môi trầm”, “Họa mi tóc nâu”, “Ước gì”, “Hát với dòng sông”, “Xích lô” hay “Cây đàn sinh viên”.

…Lưu trữ

Đọc chi tiết…

Bài viết chọn lọc 22

Chủ đề:Âm nhạc/Bài viết chọn lọc/22

Chân dung Butch Vig, nhà sản xuất album Nevermind

Nevermind là album phòng thu thứ hai của ban nhạc rock người Mỹ Nirvana, phát hành vào ngày 24 tháng 9 năm 1991, là album đầu tiên mà ban nhạc thu âm bởi hãng DGC Records. Giọng ca chính Kurt Cobain muốn thực hiện một album khác với dòng nhạc rock phổ thông tại Seattle. Anh sáng tác hầu hết các ca khúc trong album này và bắt đầu thu âm cùng nhà sản xuất Butch Vig vào tháng 4 năm 1990. Sau khi bị trì hoãn, tay trống Chad Channing rời nhóm và thay thế bằng Dave Grohl. Nhóm cũng đổi sang hãng đĩa Sound City Studios và quay trở lại phòng thu vào tháng 5 năm 1991 với nhiều bài hát mới, bao gồm “Smells Like Teen Spirit” và “Come as You Are”.

Nevermind bất ngờ đạt thành công vào cuối 1991, vượt xa mong đợi của hãng thu và cả ban nhạc, phần lớn nhờ vào đĩa đơn đầu tiên “Smells Like Teen Spirit”. Album đưa tên tuổi Nirvana ngang hàng với những cây đại thụ của làng nhạc rock, biến họ trở thành đại diện ưu tú nhất của nhạc grunge. Các đĩa đơn của album, bao gồm “Smells Like Teen Spirit”, “Come as You Are”, “Lithium” và “In Bloom”, đều là những ca khúc bất hủ của ban nhạc này. Tháng 1 năm 1992, Nevermind trở thành album đứng đầu bảng xếp hạng của Billboard.

…Lưu trữ

Đọc chi tiết…

Bài viết chọn lọc 23

Chủ đề:Âm nhạc/Bài viết chọn lọc/23

Paul McCartney với cây bass Höfner trên sân khấu Barton, Anh vào ngày 13 tháng 6 năm 2010

Sir James Paul McCartney (MBE; sinh ngày 18 tháng 6 năm 1942 tại thành phố Liverpool) là nhạc sĩ, ca sĩ người Anh, cựu thành viên nổi tiếng của The Beatles (1960–1970) và Wings (1971–1981). Sách Kỷ lục Guinness công nhận McCartney là “nghệ sĩ thành công nhất lịch sử âm nhạc đương đại” với 60 đĩa Vàng và hơn 100 triệu đĩa đơn đã được bán ra chỉ riêng ở Anh. Cùng với John Lennon, George Harrison và Ringo Starr, McCartney đã tạo nên bộ tứ quái The Beatles kiệt xuất của lịch sử âm nhạc thế giới. Paul và Lennon trở thành bộ đôi viết nhạc xuất sắc nhất mọi thời đại. Sau thời kỳ The Beatles, McCartney tiếp tục thành công với ban nhạc Wings cùng vợ, Linda Eastman, và Denny Laine.

Trang BBC Online gọi McCartney là “nghệ sĩ vĩ đại nhất của thiên niên kỷ”. Cũng theo BBC, ca khúc bất tử của Paul, “Yesterday”, được hát lại bởi hơn 2200 nghệ sĩ, nhiều hơn bất kể ca khúc nào khác. Kể từ khi phát hành vào năm 1965, nó cũng được phát tới 7 triệu lần trên truyền hình và phát thanh Mỹ. Đĩa đơn “Mull of Kintyre” của Wings là ca khúc đầu tiên cán mốc 2 triệu bản ở Anh và vẫn giữ vị trí quán quân trong danh sách đĩa đơn bán chạy nhất mọi thời đại tại Anh. Với tổng cộng 93 tuần đứng đầu tại bảng xếp hạng, trong đó có 24 đĩa đơn quán quân, McCartney là nhạc sĩ xuất sắc nhất trong lịch sử âm nhạc đại chúng Anh. Ở Mỹ, ông cũng có 31 đĩa đơn tại Billboard Hot 100 và được RIAA ghi nhận bán được ít nhất 15,5 triệu đĩa đơn tại Mỹ.

…Lưu trữ

Đọc chi tiết…

Bài viết chọn lọc 24

Chủ đề:Âm nhạc/Bài viết chọn lọc/24

Hàng trên: Brian May, Freddie Mercury Hàng dưới: John Deacon, Roger Taylor

Queen là một ban nhạc rock người Anh thành lập năm 1970 tại Luân Đôn. Đội hình trình diễn chính thức của họ bao gồm Freddie Mercury (hát chính, piano), Brian May (guitar, hát), Roger Taylor (trống, hát) và John Deacon (bass). Những sản phẩm đầu tay của Queen mang nhiều ảnh hưởng từ progressive rock, hard rock và heavy metal, nhưng sau này họ ngày càng phát triển theo phong cách gần gũi với công chúng hơn và kết hợp với nhiều thể loại khác, bao gồm cả arena rock và pop rock.

Trước khi lập nên Queen, May và Taylor đã cùng nhau chơi nhạc tại nhóm Smile. Mercury là người hâm mộ ban nhạc này và đề nghị họ thử chơi với nhiều phong cách và kỹ thuật mới. Mercury gia nhập nhóm vào năm 1970, đề xuất tên gọi “Queen” (“Nữ hoàng”) và chọn đó là tên chính thức cho ban nhạc. Deacon được tuyển dụng làm tay bass sau khi hoàn tất việc thu âm album đầu tay của nhóm vào năm 1973. Queen xuất hiện tại các bảng xếp hạng của Anh với album thứ 2, Queen II (1974), nhưng phải tới Sheer Heart Attack phát hành cuối năm và A Night at the Opera (1975), họ mới có được thành công toàn cầu. Ca khúc kinh điển “Bohemian Rhapsody” có được vị trí quán quân tại Anh trong vòng 9 tuần, trực tiếp quảng bá hình thức giới thiệu video âm nhạc tới công chúng.

…Lưu trữ

Đọc chi tiết…

Bài viết chọn lọc 25

Chủ đề:Âm nhạc/Bài viết chọn lọc/25

Swift trên phim trường Good Morning America trong tuần lễ phát hành Red vào tháng 10 năm 2012.

Red (viết cách điệu là RED) là album phòng thu thứ tư của nữ ca sĩ kiêm sáng tác nhạc người Mỹ Taylor Swift, do hãng thu âm Big Machine Records phát hành vào ngày 22 tháng 10 năm 2012. Được Swift bắt tay thực hiện từ năm 2010, album là thành quả hợp tác giữa cô và các nhạc sĩ như Dan Wilson, Max Martin, Shellback, Gary Lightbody, Ed Sheeran và Patrick Warren. Kết cấu và tựa đề của album lấy cảm hứng từ những trải nghiệm tình cảm mà Swift đúc kết được trong thời gian thu âm, với thể loại pop đồng quê và pop rock.

Các nhà phê bình âm nhạc đương đại đón nhận Red một cách nồng nhiệt, khi đề cao tính linh hoạt của Swift ở cương vị nhạc sĩ cùng phần sản xuất mang tính thử nghiệm. Album mang về cho cô 2 đề cử “Album nhạc đồng quê xuất sắc nhất” và “Album của năm” tại mùa Giải Grammy lần thứ 56, trong khi giành giải “Album nhạc đồng quê được yêu thích nhất” tại Giải thưởng Âm nhạc Mỹ năm 2013. Red gặt hái thành công rực rỡ về mặt thương mại, khi giành ngôi đầu bảng tại Hoa Kỳ, Anh Quốc, Úc, Canada, Ireland và New Zealand, là album bán chạy thứ hai trên toàn cầu trong năm 2012, với doanh số đến nay đã chạm mốc 6 triệu bản.

…Lưu trữ

Đọc chi tiết…

Bài viết chọn lọc 26

Chủ đề:Âm nhạc/Bài viết chọn lọc/26

Chân dung Ringo Starr.

Sir Richard Starkey (MBE, sinh ngày 7 tháng 7 năm 1940, nghệ danh Ringo Starr) là nhạc sĩ, ca sĩ và diễn viên người Anh, nổi tiếng toàn cầu trong vai trò tay trống của ban nhạc huyền thoại The Beatles. Trong ban nhạc, ông thỉnh thoảng cũng lĩnh xướng trong các ca khúc như “With a Little Help from My Friends”, “Yellow Submarine” hay bản hát lại của “Act Naturally”. Ngoài ra, ông còn tham gia sáng tác một số ca khúc như “Don’t Pass Me By” và “Octopus’s Garden”, và đồng sáng tác một số tác phẩm khác như “What Goes On” và “Flying”.

Starkey từng 2 lần gặp vấn đề về suy nhược khi còn nhỏ, dẫn tới việc phải nằm viện dài ngày trong thời gian đi học. Năm 1955, ông tham gia lao động và có được vị trí tại British Rail trước khi theo học làm công nhân vật tư ở Liverpool. Không lâu sau, ông bị cuốn theo làn sóng nhạc skiffle ở Anh và nhanh chóng phát triển trong môi trường này. Năm 1957, ông thành lập ban nhạc đầu tiên có tên Eddie Clayton Skiffle Group, gây được sự chú ý đáng kể trong vùng trước khi bị dòng nhạc rock and roll từ Mỹ lấn át vào đầu năm 1958.

…Lưu trữ

Đọc chi tiết…

Bài viết chọn lọc 27

Chủ đề:Âm nhạc/Bài viết chọn lọc/27

Nicks và Buckingham, hai thành viên của Fleetwood Mac.

Rumours là album phòng thu thứ 11 của ban nhạc rock người Anh-Mỹ Fleetwood Mac. Được chủ yếu thực hiện tại California trong năm 1976, album được hợp tác sản xuất với Ken Caillat và Richard Dashut và được phát hành vào ngày 4 tháng 2 năm 1977 bởi Warner Bros. Records. Album dễ dàng có được vị trí quán quân ở cả Billboard 200 lẫn UK Albums Chart, theo kèm là các đĩa đơn “Go Your Own Way”, “The Chain”, “Don’t Stop”, “Dreams” và “You Make Loving Fun”. Đây chính là sản phẩm thành công nhất sự nghiệp ban nhạc, đặc biệt với việc giành Giải Grammy cho Album của năm vào năm 1978 và trở thành một trong số những album bán chạy nhất mọi thời đại với khoảng 45 triệu đĩa đã bán. Rumours cũng nhận được chứng chỉ Kim cương tại nhiều quốc gia, trong đó có Mỹ, Canada và Úc.

Ban nhạc thực tế muốn ngay lập tức tiếp tục những thành công từ album trước đó của họ là Fleetwood Mac (1975), song những rắc rối trong quan hệ cá nhân của từng thành viên đã cản trở quá trình thu âm bắt đầu. Quá trình thực hiện Rumours được đánh dấu bởi thái độ hợp tác cũng như đối đầu giữa các thành viên trong nhóm; và những câu chuyện của họ đã xuất hiện trong ca từ của mỗi ca khúc. Bị ảnh hưởng lớn từ nhạc pop, album sử dụng pha trộn các nhạc cụ mộc lẫn nhạc cụ điện. Công đoạn chỉnh âm cũng khiến việc phát hành Rumours bị trì hoãn, và cuối cùng được hoàn tất vào cuối năm 1976. Sau khi album được ra mắt vào năm 1977, Fleetwood Mac liền tiến hành một tour diễn vòng quanh thế giới.

…Lưu trữ

Đọc chi tiết…

Bài viết chọn lọc 28

Chủ đề:Âm nhạc/Bài viết chọn lọc/28

Christina Aguilera trong chuyến lưu diễn Stripped World Tour (2003).

Stripped là album phòng thu thứ tư trong sự nghiệp âm nhạc của nữ ca sĩ thu âm người Mỹ Christina Aguilera, được hãng đĩa RCA Records phát hành vào ngày 26 tháng 10 năm 2002. Khác với album Christina Aguilera mang thể loại bubblegum pop, Stripped là sự kết hợp các thể loại hoàn toàn mới bao gồm R&B, phúc âm, soul, pop rock, Latin và hip hop. Album được chính cô và các nhà sản xuất lâu năm khác sản xuất, gồm Scott Storch và Linda Perry. Trong suốt quá trình quảng bá cho album, cô đã sử dụng nghệ danh “Xtina” cùng những video khêu gợi đã bị cấm và bị chỉ trích nặng nề tại Mỹ, trong đó có video âm nhạc của đĩa đơn “Dirrty”. Mặc dù vậy, album vẫn được phát hành với tư cách là “album lành mạnh” và không bị mang biển “Khuyến cáo cho cha mẹ” (“Parental Advisory”). Từ một hình tượng “Công chúa nhạc Pop” trước kia, Stripped đã làm cho Aguilera trở thành một “Biểu tượng sex”.

Stripped ra mắt tại vị trí á quân trên bảng xếp hạng Billboard 200 và tiêu thụ được 330.000 bản trong tuần đầu tiên. Mặc dù Aguilera bị chỉ trích trong việc sáng tác các ca khúc, song album đã mang về cho cô nhiều giải thưởng danh giá, bao gồm một giải Grammy. Album là một thành công thương mại, xếp hạng á quân tại Liên hiệp Anh và trở thành album bán chạy thứ 73 tại nước này. Tới nay, album đã tiêu thụ được 4,3 triệu bản tại Mỹ và 12 triệu bản trên toàn thế giới. Christina Aguilera đã thực hiện hai chuyến lưu diễn nhằm quảng bá cho album, bao gồm Justified/Stripped Tour và Stripped World Tour. Các đĩa đơn trích từ Stripped bao gồm “Dirrty”, “Beautiful”, “Fighter”, “Can’t Hold Us Down” và “The Voice Within”.

…Lưu trữ

Đọc chi tiết…

Bài viết chọn lọc 29

Chủ đề:Âm nhạc/Bài viết chọn lọc/29

The Beatles tại Stockholm, Thụy Điển năm 1963 Từ trái qua phải: Starr, Harrison, Lennon, McCartney

The Beatles là ban nhạc rock người Anh hoạt động trong thập niên 1960. Với 4 thành viên John Lennon, Paul McCartney, George Harrison và Ringo Starr, bộ tứ trở thành nghệ sĩ thành công nhất và ảnh hưởng nhất thời kỳ huy hoàng của nhạc rock. Khởi đầu với nhạc skiffle, beat và rock ‘n’ roll thập niên 1950, The Beatles sau đó đã chơi nhiều thể loại đa dạng, từ pop ballad tới psychedelic và hard rock, kết hợp với âm nhạc cổ điển theo nhiều cách khác nhau. Đầu những năm 1960, sự nổi tiếng của họ là nguồn gốc của hiện tượng Beatlemania, song cùng với sự phát triển trong quan điểm và cách viết nhạc, ban nhạc dần trở thành hiện thân của những ý tưởng thời kỳ giải phóng xã hội.

Từ năm 1960, The Beatles bắt đầu chơi nhạc tại các địa điểm ở Liverpool và Hamburg trong suốt 3 năm. Nhà quản lý Brian Epstein đưa họ trở thành những nghệ sĩ chuyên nghiệp qua việc giới thiệu tiềm năng của nhóm tới nhà sản xuất George Martin. Họ sớm có được sự chú ý ở Anh ngay với đĩa đơn đầu tay “Love Me Do” vào cuối năm 1962. Ban nhạc được gán với tên gọi “Fab Four” trong quãng thời gian Beatlemania ngày một gia tăng tại Anh vào năm 1963, và tới năm 1964 họ trở thành ngôi sao nổi tiếng toàn thế giới, đưa British Invasion tới thị trường âm nhạc Mỹ. Kể từ năm 1965, The Beatles bắt đầu thu âm và thực hiện những kiệt tác xuất sắc nhất của họ, bao gồm những album vĩ đại nhất lịch sử âm nhạc thế giới như Rubber Soul (1965), Revolver (1966), Sgt. Pepper’s Lonely Hearts Club Band (1967), The Beatles (Album trắng, 1968) và Abbey Road (1969). Sau khi tan rã vào năm 1970, họ vẫn tiếp tục có được nhiều thành tựu. Lennon bị ám sát vào năm 1980, Harrison qua đời vì ung thư phổi vào năm 2001, 2 thành viên còn sống là McCartney và Starr tiếp tục những hoạt động dưới tên của ban nhạc.

…Lưu trữ

Đọc chi tiết…

Bài viết chọn lọc 30

Chủ đề:Âm nhạc/Bài viết chọn lọc/30

Toàn cảnh sân khấu chính với hệ thống cầu thang và pháo sáng trong chuyến lưu diễn.

The Red Tour là chuyến lưu diễn thứ ba của nữ ca sĩ-nhạc sĩ người Mỹ Taylor Swift nhằm quảng bá cho album phòng thu thứ tư của cô, Red (2012). Chuyến lưu diễn diễn ra ở 4 châu lục, bắt đầu tại Omaha vào ngày 13 tháng 3 năm 2013 và kết thúc tại Singapore vào ngày 12 tháng 6 năm 2014. Đây là lần đầu tiên Swift trình diễn tại những nước Hồi giáo như Malaysia và Indonesia.

Swift biểu diễn trên hai sân khấu khác nhau, thay đổi nhiều trang phục và trình diễn bằng nhiều loại nhạc cụ như guitar điện, guitar acoustic, piano và băng cầm trong suốt chương trình. Danh sách tiết mục phần lớn lấy từ Red kết hợp với một số ca khúc nằm trong các album phòng thu trước đây của Swift. Tại nhiều thành phố, nữ ca sĩ còn gây bất ngờ cho khán giả bằng việc mời nhiều nghệ sĩ lên sân khấu và song ca cùng cô. Chuyến lưu diễn nhận được nhiều phản hồi chuyên môn rất tích cực, một số nhà phê bình âm nhạc còn nhận thấy sự biến chuyển trong phong cách của Swift từ dòng nhạc đồng quê sang dòng nhạc pop.

…Lưu trữ

Đọc chi tiết…

Bài viết chọn lọc 31

Chủ đề:Âm nhạc/Bài viết chọn lọc/31

Hình ảnh bờ biển bán đảo Kintyre, nơi McCartney lấy cảm hứng sáng tác ca khúc.

The Long and Winding Road” là bản ballad do Paul McCartney sáng tác (đề tên Lennon-McCartney). Đây là ca khúc thứ 10 trong album Let It Be của The Beatles. Bài hát trở thành ca khúc thứ 20 và cũng là ca khúc cuối cùng của nhóm nhạc này leo lên vị trí số 1 trên bảng xếp hạng của Hoa Kỳ vào ngày 13 tháng 6 năm 1970, và là đĩa đơn cuối cùng do nhóm phát hành khi cả bốn thành viên đều còn sống. “The Long and Winding Road” cùng với “For You Blue” trở thành những bản hit khi đĩa đơn 2-mặt này leo lên vị trí quán quân trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100 của Hoa Kỳ vào năm 1970.

Tuy bản phát hành sau cùng của ca khúc này rất thành công, nhưng những thay đổi khi thực hiện hậu kỳ của nhà sản xuất Phil Spector khiến McCartney tức giận tới mức khi đưa vấn đề giải tán ban nhạc the Beatles ra toà, McCartney đã nêu việc xử lý ca khúc “The Long and Winding Road” là một trong 6 nguyên nhân dẫn đến quyết định đó. Các bản phối mới của ca khúc với ít nhạc cụ hơn sau đó đã được phát hành dưới tên của The Beatles và McCartney.

…Lưu trữ

Đọc chi tiết…

Bài viết chọn lọc 32

Chủ đề:Âm nhạc/Bài viết chọn lọc/32

Michael Jackson, ảnh chụp năm 1984, vài tháng trước khi anh cùng Lionel Richie sáng tác ca khúc "We Are the World".

We Are the World” là một ca khúc và đĩa đơn từ thiện do siêu nhóm nhạc USA for Africa thu âm năm 1985. Ca khúc do Michael Jackson và Lionel Richie sáng tác và được Quincy Jones cùng Michael Omartian sản xuất cho album We Are the World. Với doanh số bán trên 20 triệu bản, đây là một trong số 10 đĩa đơn bán chạy nhất mọi thời đại trên toàn cầu.

[1] Sau dự án “Do They Know It’s Christmas?” của siêu nhóm nhạc Band Aid ở Anh, nhạc sĩ và nhà hoạt động xã hội Harry Belafonte nảy ra ý tưởng làm một đĩa đơn từ thiện của Mỹ để hỗ trợ công tác giảm thiểu nạn đói ở châu Phi. Ông, cùng với nhà gây quỹ Ken Kragen, là những người đóng vai trò quan trọng trong việc đưa ý tưởng này trở thành hiện thực. Hai người sau đó đã liên hệ với một số nhạc sĩ, và cuối cùng giao cho Jackson và Richie sáng tác ca khúc này. Cặp đôi này viết xong ca khúc “We Are the World” chỉ bảy tuần sau khi “Do They Know Its Christmas” được phát hành, và ngay ngày hôm sau (21 tháng 1 năm 1985), buổi thu âm đầu tiên của ca khúc được thực hiện. (Buổi cuối cùng là vào ngày 28 tháng 1 năm 1985). Sự kiện mang tính lịch sử này quy tụ một vài trong số những ca sĩ nổi tiếng nhất của nền công nghiệp âm nhạc thời bấy giờ.

…Lưu trữ

Đọc chi tiết…

Bài viết chọn lọc 33

Chủ đề:Âm nhạc/Bài viết chọn lọc/33

Một góc khu tổ hợp của hãng Warner Bros. ở California, nơi ban nhạc chụp phần ảnh bìa.

Wish You Were Here là album phòng thu thứ 9 của ban nhạc progressive rock người Anh, Pink Floyd, phát hành vào tháng 9 năm 1975. Album lần này khai thác chủ đề về sự trống vắng, nền công nghiệp âm nhạc cũng như các vấn đề tâm thần của cựu thủ lĩnh Syd Barrett. Được viết từ những phần sáng tác nhỏ khi ban nhạc lưu diễn châu Âu, Wish You Were Here được thu âm qua rất nhiều giai đoạn ở Abbey Road Studios. Quá trình thực hiện album gặp một vài trục trặc, song chính điều đó giúp Roger Waters quyết định tách ca khúc “Shine On You Crazy Diamond” thành hai phần riêng biệt và xen vào giữa đó ba ca khúc mới. “Shine On” là ca khúc để dành tặng Barrett sau khi anh đột nhiên tới thăm ban nhạc trong quá trình thu âm.

Tương tự album trước đó, The Dark Side of the Moon, ban nhạc tiếp tục sử dụng nhiều hiệu ứng âm thanh cũng như máy chỉnh âm. Roy Harper được mời tới hát chính trong ca khúc “Have a Cigar”. Phần thiết kế được Storm Thorgerson phụ trách khi bọc toàn bộ bên ngoài một lớp giấy bóng màu đen nhằm giấu phần bìa chính. Wish You Were Here thành công vang dội và thực tế EMI đã không phát hành đủ lượng đĩa yêu cầu. Cho dù những đánh giá ban đầu khá trái chiều, song cuối cùng album vẫn có mặt trong danh sách “500 album vĩ đại nhất” của tạp chí Rolling Stone. Cả hai thành viên Richard Wright và David Gilmour đều coi Wish You Were Here là album yêu thích của họ.

…Lưu trữ

Đọc chi tiết…

Bài viết chọn lọc 34

Chủ đề:Âm nhạc/Bài viết chọn lọc/34

Nhà hát nhìn từ phố Tràng Tiền.

Nhà hát Lớn Hà Nội là một công trình kiến trúc tại thành phố Hà Nội, Việt Nam, phục vụ biểu diễn nghệ thuật. Nhà hát tọa lạc trên quảng trường Cách mạng tháng Tám, vị trí đầu phố Tràng Tiền, không xa hồ Hoàn Kiếm và Bảo tàng Lịch sử Việt Nam. Công trình được người Pháp khởi công xây dựng năm 1901 và hoàn thành năm 1911, theo mẫu Nhà hát Opéra Garnier ở Paris nhưng mang tầm vóc nhỏ hơn và sử dụng các vật liệu phù hợp với điều kiện khí hậu địa phương. Tác phẩm của hai kiến trúc sư Harlay và Broyer mang nhiều màu sắc, đường nét kiến trúc của các nhà hát ở miền Nam nước Pháp, có cách tổ chức mặt bằng, không gian biểu diễn, cầu thang, lối vào sảnh… giống với các nhà hát ở châu Âu đầu thế kỷ 20. Mặc dù là một công trình kiến trúc mang tính chiết trung, được pha trộn nhiều phong cách, nhưng Nhà hát Lớn Hà Nội vẫn mang đậm dáng vẻ Tân cổ điển Pháp, đặc biệt ở kết cấu kiến trúc, kiểu mái hai mảng lợp ngói đá đen cùng các họa tiết trang trí bên trong. Ra đời muộn hơn các nhà hát ở Thành phố Hồ Chí Minh và Hải Phòng, nhưng Nhà hát Lớn Hà Nội có kiến trúc hoàn chỉnh nhất và trở thành một hình ảnh quen thuộc, đặc trưng của thành phố Hà Nội.

Ngay từ khi hoàn thành, Nhà hát Lớn đã giữ vai trò một trong những trung tâm văn hóa quan trọng của thủ đô, nơi diễn ra thường xuyên các hoạt động văn hóa, biểu diễn nghệ thuật. Nhà hát Lớn là nơi khai sinh và tôn vinh kịch nghệ cùng sân khấu Việt Nam, cũng như các loại hình nghệ thuật giao hưởng, hợp xướng, nhạc kịch, vũ kịch. Không chỉ vậy, nhà hát còn là một địa điểm mang đậm những dấu ấn lịch sử, từng là nơi Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam độc lập nhóm họp và thông qua Hiến pháp năm 1946, bản Hiến pháp đầu tiên của Việt Nam cũng như danh sách chính phủ Liên hiệp Kháng chiến Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (Hồ Chí Minh đứng đầu); Toàn quốc Kháng chiến Ủy viên Hội (Võ Nguyên Giáp làm chủ tịch); Quốc gia Cố vấn đoàn (Vĩnh Thụy làm đoàn trưởng).

…Lưu trữ

Đọc chi tiết…

Bài viết chọn lọc 35

Chủ đề:Âm nhạc/Bài viết chọn lọc/35

Ảnh chụp Thom Yorke, giọng ca chính của Radiohead.

OK Computer là album phòng thu thứ ba của ban nhạc rock người Anh Radiohead, do hai hãng đĩa con của EMI là Parlophone và Capitol Records phát hành vào năm 1997. Đây là album tự sản xuất đầu tiên của ban nhạc với sự hỗ trợ của Nigel Godrich. Radiohead thu âm album tại Oxfordshire và Bath suốt năm 1996 tới đầu năm 1997, và hầu hết các ca khúc được hoàn thiện tại điền trang lịch sử nổi tiếng St Catherine. Với album này, ban nhạc đã chủ động tách xa khỏi việc lạm dụng guitar, trong khi phần ca từ tiếp tục theo hơi hướng từ album trước đó của họ, The Bends. Thứ ca từ trừu tượng, những âm thanh giàu tính giai điệu và những triết lý của nó chính là định hướng âm nhạc của Radiohead sau này với nhiều tính trải nghiệm hơn.

OK Computer nhận được nhiều đánh giá rất tích cực và được thính giả cũng như nhiều ý kiến chuyên môn coi là album xuất sắc của thập niên 1990. Album cũng được đề cử Giải Grammy cho Album của năm và giành giải Album nhạc alternative xuất sắc nhất năm 1998. Album tách biệt hoàn toàn với thể loại Britpop đang rất đình đám vào thời điểm đó để hướng tới phong cách sầu não và sôi động hơn của alternative rock thống trị suốt thập niên tiếp theo. Giới chuyên môn và người hâm mộ dành nhiều bình luận về những chủ đề ẩn sau ca từ và phần bìa đĩa của album, ca ngợi quan điểm của Radiohead về chủ nghĩa tiêu dùng, sự tha hóa của xã hội, cảm giác bị cách li và những nỗi ám ảnh chính trị. Về những khía cạnh này, OK Computer thường được coi là tiên tri cho cuộc sống thế kỷ 21.

…Lưu trữ

Đọc chi tiết…


Lấy từ “https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Chủ_đề:Âm_nhạc/Bài_viết_chọn_lọc&oldid=62660932”

Từ khóa: Chủ đề:Âm nhạc/Bài viết chọn lọc, Chủ đề:Âm nhạc/Bài viết chọn lọc, Chủ đề:Âm nhạc/Bài viết chọn lọc

Nguồn: Wikipedia

0/5 (0 Reviews)